Những Câu Thơ Về Người Lính Bất Hủ Của Nguyễn Đức Mậu

2 lượt xem

Trong dòng chảy văn học cách mạng Việt Nam, thơ ca về người lính luôn chiếm một vị trí đặc biệt, là nơi lưu giữ những ký ức hào hùng và bi tráng của dân tộc. Giữa thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ, Nguyễn Đức Mậu nổi lên như một giọng thơ độc đáo, người đã dùng cả cuộc đời mình để viết nên “những câu thơ mặc áo lính sờn vai”. Những vần thơ của ông không chỉ là lời ca ngợi mà còn là những lát cắt chân thực về lịch sử, mang đến những câu nói hay về người lính giàu cảm xúc và đầy suy tư.

Người Lính Dưới Ngòi Bút Chân Thực Đến Từng Hơi Thở

Khác với hình ảnh người lính lãng mạn, hào hoa trong thơ của một số tác giả cùng thời, người lính của Nguyễn Đức Mậu hiện lên với tất cả sự mộc mạc, giản dị và chân thành. Ông không né tránh việc khắc họa những khó khăn, thiếu thốn cùng cực mà họ phải đối mặt nơi chiến trường. Đó là những ngày hành quân dầm mưa nơi rừng thiêng nước độc:

Trạm giao liên mái nứa mốc mưa rừng

Đường dựng đứng, rêu xanh sườn núi

Đêm dừng chân hai đứa một chăn

Nằm trên nước lũ cùng mưa xối

Áo giặt ba ngày vẫn ướt đầm

Cơm nắm, nước mưa hòa với muối

(Mưa Trường Sơn)

Và khi mùa mưa qua đi, cái nắng cháy da cháy thịt của Trường Sơn lại mang đến một thử thách khác, cơn khát đến tột cùng, ám ảnh cả trong vết thương:

Họ ngồi bên chiếc bi đông thủng đạn

Mắt nhìn trời mong gặp cơn mưa…

Vết thương đòi uống nước, máu rưng rưng

(Cơn khát ở chốt)

Những vần thơ như vậy không tô vẽ, không mỹ miều hóa hiện thực mà đi thẳng vào bản chất của chiến tranh, giúp người đọc thấu hiểu sâu sắc sự hy sinh thầm lặng của người lính.

Vẻ Đẹp Tinh Thần Tỏa Sáng Giữa Khói Lửa

Dù viết về gian khổ, thơ Nguyễn Đức Mậu không hề bi lụy. Ngược lại, chính trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, vẻ đẹp tâm hồn và ý chí của người lính lại càng tỏa sáng.

Bản Lĩnh Kiên Cường Trong Chiến Đấu

Nguyễn Đức Mậu đã tạc nên hình ảnh người lính anh dũng, kiên cường với những chi tiết độc đáo. Trong bài “Bàn tay biết đi”, ông miêu tả người chiến sĩ đặc công mất đi đôi chân nhưng vẫn kiên cường bám đất, dùng đôi tay chai sạm vì lửa đạn để di chuyển, để chiến đấu. Đó là câu nói hay về bản lĩnh được viết bằng chính hành động phi thường:

Và bàn tay xém lửa xù xì

Thành bàn chân: như trẻ nhỏ

anh đi

Bám đất chiến hào nhích lên từng bước

Lửa bộc phá lóe lên phá sập bốt đồn

Tình Cảm Sâu Nặng Với Hậu Phương

Phía sau sự gan góc nơi trận mạc là một trái tim chan chứa tình yêu thương gia đình, quê hương và đôi lứa. Người lính trong thơ ông là người con hiếu thảo, luôn canh cánh nỗi lòng về người mẹ nơi quê nhà:

Thương mái nhà mưa dột

Thương hàng cây gió dồn

Cơn mưa từ phía má

Tí tách còn theo con.

(Đêm mưa thôn Tầm Vu)

Tình yêu của họ cũng thật trong trẻo, thủy chung và giản dị. Mọi kỷ niệm đều trở thành động lực, là điểm tựa tinh thần để họ vững bước ra trận:

Bao kỉ niệm cứ theo anh ra trận

Ngôi sao nào anh ngỡ mắt em xanh

Buổi mới yêu nhau bên hàng rào đêm ấy

Tàu cau rung, hai đứa giật mình

(Hòm thư bưu điện ở trạm giao liên)

“Trường Ca Sư Đoàn” – Tượng Đài Thi Ca Về Thế Hệ Anh Hùng

Tất cả những gì tinh túy nhất trong thơ Nguyễn Đức Mậu về người lính dường như được kết tinh và thăng hoa trong “Trường ca Sư đoàn” (1980). Đây là tác phẩm ông viết tặng Sư đoàn 312 anh hùng, nơi ông đã gắn bó. Bản trường ca là một bức tranh toàn cảnh về hành trình của sư đoàn qua các mặt trận ác liệt nhất.

Trong bản hùng ca đó, có những câu thơ đã trở thành kinh điển, cô đọng nỗi đau và sự hy sinh vô bờ bến của chiến tranh. Khi viết về ngày gặp mặt sau chiến thắng, ông đã thốt lên nỗi niềm xót xa:

Nếu tất cả trở về đông đủ

Sư đoàn tôi thành mấy sư đoàn

Câu thơ nhẹ nhàng nhưng sức nặng của nó đủ làm tái tê lòng người. Nó nói lên sự thật tàn khốc rằng để giữ được phiên hiệu một sư đoàn, biết bao thế hệ người lính đã ngã xuống.

Và ở cuối bản trường ca, ông đã viết nên những vần thơ tuyệt đẹp về niềm tin và sự hy sinh của người phụ nữ hậu phương, dựa trên sự tích nàng Tô Thị chờ chồng hóa đá:

Người hóa đá trọn thời nhan sắc

Anh sẽ về

Cho đá lại là em

Đây là lời hứa, là niềm tin sắt đá vào ngày chiến thắng. Người lính trở về không chỉ để đoàn tụ mà còn để hồi sinh, để biến những chờ đợi hóa đá thành hạnh phúc sum vầy.

Lời Kết

Sau ngày hòa bình, nhà thơ Nguyễn Đức Mậu vẫn lặng lẽ viết, chiêm nghiệm về cuộc đời. Dù dòng chảy thi ca có nhiều đổi hướng, ông vẫn dành một phần tâm hồn mình cho đề tài người lính. Với ông, đó là cách để tri ân đồng đội, và cũng là cách để giữ cho thơ mình không “lạc giữa ngôn từ sáo rỗng”. Những câu thơ “mặc áo lính sờn vai” của Nguyễn Đức Mậu sẽ mãi là một phần di sản quý giá, giúp thế hệ sau hiểu thêm về một thời đại không thể nào quên.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Video nổi bật+ Xem tất cả

Tin mới hơn