Thành thật mà nói, tôi chưa bao giờ thực sự thích Tết. Ký ức về Tết đầu tiên của tôi là năm lớp 1, khi cô giáo “lì xì” cả lớp bằng một tập bài tập dày cộp. Lớn hơn một chút, tôi lờ mờ nhận ra Tết đồng nghĩa với vô số công việc không tên. Người lớn thì bận rộn ngược xuôi, về nhà lại tất bật dọn dẹp, và khi đã bận, họ rất dễ cáu gắt với trẻ con. Tôi từng viết trong nhật ký năm lớp 3 rằng: “Tết là dịp mọi người ở nhà nhiều hơn, va chạm nhiều hơn, dễ giận nhau hơn; những ngày gần Tết luôn là những ngày mình hay bị mắng nhất.”
Khi ở tuổi “teen”, tôi được giao nhiệm vụ ở nhà tiếp khách. Với một đứa nhút nhát và kiệm lời như tôi, đó thực sự là một “trọng trách” đầy áp lực. Mỗi khi có khách đến, tôi lại lúng túng mời bánh kẹo rồi lục đục đi đun nước pha trà. Cuộc trò chuyện chỉ loanh quanh vài câu hỏi quen thuộc rồi chìm vào im lặng cho đến khi nước sôi và vị khách đành chào về. Ngay cả niềm vui nhận lì xì cũng vơi dần khi tôi nhận ra rằng, mỗi đồng mình nhận được là hai, ba đồng ba mẹ phải mừng lại cho con nhà người khác. Có lẽ, một đứa trẻ hồn nhiên, vô tư sẽ thích Tết hơn tôi.
Thế nhưng, mọi chuyện đã thay đổi khi tôi ra nước ngoài sống xa gia đình. Tôi bắt đầu thấy tủi thân mỗi dịp Tết đến. Những năm đầu còn tụ tập bạn bè nấu nướng cho có không khí, nhưng sau này vì bận rộn học hành, công việc, tôi dần quên mất Tết. Chỉ đến khi ba mẹ gọi điện video chúc mừng năm mới, gửi ảnh mâm cỗ cúng tất niên, tôi mới nghẹn ngào nhận ra mình nhớ nhà đến nhường nào. Tôi nhận ra, có những thứ phải mất đi rồi ta mới hiểu hết giá trị của nó. Tết này, khi may mắn có mẹ sang chăm cháu và chuẩn bị một mâm cỗ tươm tất giữa trời Tây, tôi đã có câu trả lời cho riêng mình về ý nghĩa ngày Tết. Dù vẫn “không thích” sự bận rộn của nó, tôi nhận ra Tết có những điều tuyệt vời mà không ai muốn bỏ lỡ.
